"TẤT CẢ VÌ HỌC SINH THÂN YÊU"

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Tháng 06 : 96
Năm 2022 : 1.181
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Bài dự thi đạt giải Ba của đồng chí Nguyễn Ngọc Khánh, Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng trường THCS Quang Minh tại Hội thi báo cáo viên giỏi do Ban tuyên giáo Huyện ủy Hiệp Hòa tổ chức. 

Phần mở đầu

Vấn đề phát triển, đào tạo nguồn nhân lực không phải là vấn đề mới mẻ và luôn được coi trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã làm rạng danh non sông đất nước ta trong thế kỷ 20 từng nhận định: "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Người luôn coi trọng việc phát triển nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực với quan điểm hết sức nhân văn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Tư tưởng của Người đã trở thành kim chỉ nam trong việc sử dụng và phát huy nhân tố con người của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước.

Trong chuyên đề hôm nay, tôi xin làm rõ quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng ta đối với việc phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, một nội dung hết sức quan trọng đề cập ở mục V trong cả Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và Những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030.

Phần nội dung chính

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, … đang đặt ra cả những thách thức và thời cơ cho đất nước ta. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội XIII đã thành công tốt đẹp. Những nội dung quan trọng được thực hiện bao gồm: kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh bổ sung và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.

Chúng ta có thể vắn tắt về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII qua một số từ khóa: Nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng cao, Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Hội nhập quốc tế.

Trong đó “Nguồn nhân lực” là Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian nhất định.

“Nhân lực chất lượng cao” được hiểu là một bộ phận của nguồn nhân lực, được thể hiện vai trò nòng cốt, tiêu biểu đáp ứng những vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, vùng lãnh thổ.

“Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” còn gọi là Cách mạng công nghiệp 4.0” đặc trưng là sự hợp nhất các loại công nghệ, làm xóa nhòa ranh giới giữa lĩnh vực vật lí, kĩ thuật số và sinh học với trung tâm là phát triển trí tuệ nhân tạo, robot hóa, Internet vạn vật, khoa học vật liệu, sinh học, công nghệ di động không dây liên ngành sâu rộng cho tự động hóa sản xuất chế tạo.

“Hội nhập quốc tế” là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm.

Bên cạnh những thành tựu đạt được của công tác phát triển nhân lực, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, đánh giá: Đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới còn chậm, chưa quyết liệt, chưa đáp ứng yêu cầu; giải pháp thiếu hệ thống, chưa ổn định. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu thị trường lao động. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ. Quản lý nhà nước và quản lý - quản trị nhà trường còn nhiều hạn chế.

Về đổi mới chương trình, giáo dục Việt Nam mất 12 năm (2006 đến 2018) để đổi mới chương trình GDPT và năm học 2021-2022 mới bắt đầu thực hiện CT GDPT 2018 mới với lớp 2 ở Tiểu học và lớp 6 với THCS. (Trong khi các nền GD phát triển thì chu kỳ đổi mới CT của họ là 5 đến 10 năm); Mạng lưới trường, lớp bất cập, không đồng bộ dẫn tới bất cập trong quản lý GD và tính liên thông giữa các cấp học; Sau năm 2006, GD loay hoay với việc phân ban và thất bại với mô hình Trường học mới VNEN; Số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cá biệt có những giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc xã hội.

Xác định những hạn chế về vấn đề phát triển nhân lực, nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục và đào tạo … Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội lần thứ XIII đã định hướng quan điểm chỉ đạo cơ bản về vấn đề này “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.”

Báo cáo chính trị tiếp tục định hướng nhiệm vụ giai đoạn 2021-2030, đó là “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”. Đồng thời tiếp tục khẳng định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng caolà một trong ba đột phá chiến lược.

Chúng ta có thể thấy rõ tính nhất quán trong đường lối ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng. Trong phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030), Đại hội XIII đã đặt ra nhiệm vụ “Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế” rất cụ thể:

- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc; Đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

- Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người.

- Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn;

- Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo.

Với nhận thức về sự thay đổi của giai đoạn phát triển sắp tới, quan điểm và chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII có nhiều điểm mới, cụ thể hơn:

Chiến lược trực tiếp đề cập đến giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Xác định rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo thích ứng với Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người.

Yêu cầu hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Thực hiện cơ chế tự chủ đào tạo đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới. Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.

Đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh.

Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế”.

Tiếp tục hoàn thiện các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo.

Đặt ra mục tiêu Việt Nam tham gia thị trường đào tạo nhân lực quốc tế. “Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh”. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. 

Phần kết luận

Như vậy, bên cạnh những thành tựu quan trọng, toàn diện và tạo ra nhiều dấu ấn nổi bật, Đại hội đại biểu toàn quốc lần XIII đã nghiêm túc chỉ ra những hạn chế, bất cập trong lĩnh vực giáo dục và đạo tạo. Đổi mới chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; hệ thống giáo dục, đào tạo chưa đồng bộ, chưa ổn định và liên thông. Đào tạo thiếu gắn kết với thực tiễn nghiên cứu khoa học, sản xuất và thị trường lao động. Nguồn nhân lực chất lượng cao chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nguy cơ tái mù chữ ở miền núi, dân tộc thiểu số có xu hướng tăng.

Đại hội tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo bằng việc xác định cụ thể các nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Mà trọng tâm là: Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo.

Thực hiện chủ trương ưu tiên đầu tư, phát triển GD&ĐT, những năm qua, Ngành giáo dục Bắc Giang đã gặt hái không ít thành tựu, khẳng định vị thế trong top các tỉnh dẫn đầu toàn quốc về GD&ĐT. Những số liệu phải nhắc tới như: Chất lượng giáo dục toàn diện và kết quả thi HSG quốc gia luôn đứng trong top 12 tỉnh, thành dẫn đầu cả nước; 99,5% trẻ mẫu giáo ra lớp, 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 99,29% trẻ hoàn thành CT Tiểu học vào lớp 6; 87,3% học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 các hệ. Năm 2020, tỷ lệ phòng học kiên cố 92,4% (tăng 8,4% so với 2015); tỷ lệ trường đạt chuẩn QG đạt 93,2%. Ngày 15/9/2020, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang vinh dự đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì.

Tuy nhiên, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định những hạn chế và nhiệm vụ phát triển GD&ĐT gồm: Rà soát, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục các cấp; Đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng HS sau THCS; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất; Nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy, học và quản lý giáo dục; Đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm các cơ sở giáo dục; Hội nhập quốc tế trong GD&ĐT; Tăng cường CSVC bảo đảm chất lượng các hoạt động GD&ĐT; Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Là một cán bộ quản lý cơ sở GD tôi phải khẳng định: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Huyện Hiệp Hòa luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, UBND huyện. Trong 5 năm, trên 70 tỷ đồng đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy học, trên 300 tỷ đồng để xây dựng 681 phòng học. Tỷ lệ trường có phòng học tiếng Anh chuyên dụng đến năm 2020 đạt 63 phòng vượt 41 phòng so với kế hoạch. Chất lượng giáo dục duy trì trong tốp đầu của tỉnh. Hằng năm, thi học sinh giỏi cấp tỉnh (xếp thứ 1 đến thứ 3/10 huyện, thành phố); tỷ lệ học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS đạt trên 98%; tuyển sinh vào lớp 10 THPT luôn trong tốp 3/10 huyện; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt trên 98%, trong đó có trên 50% học sinh đỗ vào các trường cao đẳng, đại học. Công tác khuyến học, khuyến tài tiếp tục thu hút sự tham gia của toàn xã hội với tổng huy động quỹ đạt trên 11 tỷ đồng.

Tuy nhiên, hai chỉ tiêu về giáo dục là tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học (đạt 87%) và tỷ lệ trường chuẩn quốc gia (90%) còn thấp so với mặt bằng tỉnh lần lượt là 92,4% và 93,2%. Đây cũng là hạn chế mà Đại hội đại biểu lần XXIV của Huyện ủy đã chỉ rõ, đồng thời đặt mục tiêu đến 2025 hai mục tiêu này phải đạt 95%.

Đối với xã Quang Minh, mặc dù là một xã nhỏ nằm xa trung tâm huyện, còn rất khó khăn về đời sống kinh tế, xã hội, những năm qua, Đảng ủy, UBND xã Quang Minh đã thực hiện chủ trương ưu tiên phát triển giáo dục. Với sự quan tâm, sát sao của Đảng ủy, UBND xã, cấp ủy chi bộ, ban quản lý các thôn và sự ủng hộ của nhân dân, các nhà trường trên địa bàn xã đã khắc phục những khó khăn chung của địa phương, khó khăn đặc thù của trường có quy mô nhỏ, xa trung tâm, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của các nhà trường, gặt hái những kết quả đáng khích lệ. Cơ sở vật chất, cảnh quan, các nhà trường được tôn tạo và củng cố. Tỷ lệ kiên cố hóa phòng học đạt 100%, kết quả PCGD của địa phương được duy trì (tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đạt 100%; PC GDTH và THCS đạt mức 3). Các nhà trường đều được công nhận Tập thể lao động tiên tiến và đạt tiêu chuẩn công nhận trường chuẩn quốc gia.

Thực hiện nghị quyết Đại hội các cấp, trong giai đoạn tới, các nhà trường trong xã cần tiếp tục chủ động tham mưu để tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và nhân dân; Tham mưu tăng cường xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, xã hội hóa giáo dục, phối hợp các lực lượng giáo dục … để đáp ứng những yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT và thực hiện tốt chương trình GDPT 2018; Cần tăng cường bồi dưỡng đội ngũ bằng nhiều hình thức, giải pháp; Tập trung thực hiện tốt việc xây dựng chương trình giáo dục nhà trường và đổi mới phương pháp dạy học, củng cố nâng cao chất lượng giáo dục.

Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề then chốt mà bất kỳ quốc gia nào trên Thế giới đều quan tâm. Đại hội XIII tiếp tục xác định rõ ba đột phá chiến lược trong đó có phát triển toàn diện nguồn nhân lực và vì thế cần đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Công cuộc xây dựng nước nhà đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Đó là những tác động to lớn từ Cuộc cách mạng 4.0 và Toàn cầu hóa đến toàn bộ hệ thống chính trị và các lĩnh vực của cuộc sống. Vẫn biết hết sức khó khăn, nhưng với quan điểm và đường lối ưu tiên cho giáo dục và đào tạo, với sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán và toàn diện của Đảng, đội ngũ những người làm giáo dục, đào tạo sẽ luôn ghi nhớ và thực hiện tốt lời Bác dạy “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

                                                                   NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO

                                                                   Nguyễn Ngọc Khánh


Nguồn:hiephoabacgiang.edu.vn Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video Clip
Văn bản mới